Phát triển đô thị ở Việt Nam hướng tới mục tiêu năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

August 22, 20230

Trong những năm qua, khu vực đô thị ngày càng thể hiện vai trò động lực, đầu tàu phát triển kinh tế – xã hội của các vùng và cả nước, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, chiếm tỷ trọng chi phối trong thu ngân sách, xuất khẩu, sản xuất công nghiệp. Trong giai đoạn tới, để đạt được mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045, là nước phát triển, thu nhập cao, đòi hỏi phải phát triển các đô thị nhanh và hiệu quả hơn nữa để là động lực, hỗ trợ tích cực cho phát triển vùng và các địa phương, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

A-Thực trạng phát triển đô thị giai đoạn 2011 – 2020

1. Những kết quả đạt được

Giai đoạn 2011 – 2020, Việt Nam đã chú trọng phát triển các đô thị theo hướng đáp ứng những yêu cầu, xu thế thời đại về nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và đô thị thông minh. Điều này được thể hiện trong các chính sách về phát triển đô thị(1). Thực tiễn cho thấy, tốc độ đô thị hóa của Việt Nam từ năm 2011 dường như chậm hơn, nhưng chất lượng đô thị hóa ngày càng được nâng cao. Theo Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa cả nước tăng từ 30,5% năm 2010 lên đến 38,4% năm 2019. Năm 1999, Việt Nam có 629 đô thị và đến tháng 12-2020 có 862 đô thị, bao gồm 2 đô thị đặc biệt, 23 đô thị loại I, 31 đô thị loại II, 48 đô thị loại III, 90 đô thị loại IV và 668 đô thị loại V.  Theo tổng điều tra dân số năm 2019 của Tổng cục Thống kê, dân số thành thị là hơn 33,1 triệu người, chiếm 34,4% tổng dân số cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân khu vực thành thị giai đoạn 2009 – 2019 là 2,64%/năm, gấp hơn hai lần tỷ lệ tăng dân số của cả nước và gấp sáu lần tỷ lệ tăng dân số khu vực nông thôn cùng giai đoạn. Tốc độ tăng dân số thành thị bình quân hằng năm giai đoạn 2009  - 2019 thấp hơn tốc độ tăng dân số thành thị bình quân giai đoạn 1999 – 2009 (3,4%/năm). Yếu tố di cư góp phần làm dân số khu vực thành thị tăng thêm 1,2 triệu người, chiếm 3,5% dân số thành thị; sự “chuyển mình” từ xã thành phường/thị trấn của nhiều địa phương trong cả nước góp phần chuyển 4,1 triệu người đang là cư dân nông thôn thành cư dân thành thị, tương đương 12,3% dân số thành thị của cả nước năm 2019.

Có thể thấy, diện mạo đô thị cả nước thay đổi nhanh chóng trong 10 năm trở lại đây. Việc xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch chung giúp các đô thị có định hướng phát triển tốt hơn, công tác quản lý kiến trúc đô thị được quan tâm; chương trình phát triển đô thị được triển khai tại một số đô thị lớn, như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng,… góp phần làm cho các đô thị có diện mạo khang trang, sạch sẽ hơn, hệ thống hạ tầng đầy đủ, tiện nghi hơn. Sự hình thành hàng trăm khu đô thị mới với thiết kế hiện đại, đầy đủ tiện ích đã góp phần tạo điểm nhấn về cảnh quan kiến trúc cho các đô thị, tạo các nơi ở chất lượng cao cho cộng đồng dân cư…

Các dịch vụ đô thị được thực hiện ngày một tốt hơn. Dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng ngày càng được nâng cao chất lượng, phát triển cả về hạ tầng và loại hình vận tải(2), hàng loạt xe buýt của các đô thị được đầu tư mới với việc sử dụng nhiên liệu sạch CNG góp phần giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện tăng trưởng xanh và tiện nghi trên xe đẹp, hiện đại, chất lượng phục vụ được nâng cao. Việc cấp nước tại các đô thị cơ bản được cải thiện cả về số lượng và chất lượng(3). Nhiều dự án thoát nước đô thị được thực hiện, chủ yếu bằng nguồn vốn vay ODA, như tại Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vinh,… Dịch vụ thu gom, xử lý chất thải rắn ngày càng được đẩy mạnh(4).

Tăng trưởng kinh tế khu vực đô thị trung bình đạt 12% – 15%/năm, cao hơn từ 2 đến 2,5 lần so với mặt bằng chung của cả nước. Các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn là nơi thu hút các doanh nhân, quy tụ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh của cả nước và là nguồn đóng góp ngân sách lớn nhất nước. Kinh tế đô thị góp khoảng 70% GDP cả nước. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội chiếm 42,4% tổng nộp ngân sách cả nước năm 2020.

Dây chuyền sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Synopex Việt Nam (vốn đầu tư của Hàn Quốc), tại Khu công nghiệp Quang Minh (Hà Nội)_Ảnh: TTXVN

Khu vực đô thị đang tạo động lực phát triển cho khu vực nông thôn thông qua nhiều hình thức như: Hằng năm tạo ra hàng triệu việc làm mới, thu hút, quy tụ lao động các địa phương ở mọi trình độ; là nơi tiêu thụ chủ yếu hàng nông sản và các sản phẩm địa phương; cung cấp toàn bộ các dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao không chỉ phục vụ cư dân đô thị, mà còn phục vụ khu vực nông thôn. Ngoài ra, đô thị còn có đóng góp lớn trong thực hiện các hoạt động an sinh xã hội, mà tiêu biểu là giảm nghèo quốc gia và có vai trò quan trọng trong việc liên kết với các vùng nông thôn để tạo thế trận an ninh – quốc phòng.

2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân

Có thể nêu ra những khó khăn, hạn chế trong phát triển đô thị ở Việt Nam trong thời gian qua như sau:

Một là, tốc độ đô thị hóa nhanh nhưng chất lượng chưa cao. Xu hướng chung của các đô thị Việt Nam hiện nay là phát triển nhanh, mở rộng cả về quy mô diện tích đất đai lẫn quy mô dân số với các hình thức: 1- Khu vực nội đô phát triển mạnh ra các vùng ngoại vi dẫn đến việc phải điều chỉnh ranh giới của đô thị (thị xã, quận, thành phố)(5); 2- Mở rộng đô thị trên cơ sở sáp nhập các đơn vị hành chính trong ranh giới của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hoặc có liên quan đến ranh giới của hai, ba tỉnh, thành phố(6)… Hầu hết những khu vực đô thị hóa nhanh đều có hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển, trình độ dân trí chưa cao, các loại hình kinh tế vẫn nhỏ lẻ, manh mún; người dân vẫn duy trì văn hóa, sinh hoạt theo truyền thống nông thôn, chưa thích ứng được với cuộc sống đô thị.

Hai là, nhiều đô thị có tốc độ tăng dân số cao, gây áp lực lớn đến hệ thống kết cấu hạ tầng, làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ công cộng. Tỷ lệ đất giao thông trong các đô thị còn thấp, hầu hết đạt dưới 10% đất xây dựng đô thị; năng lực vận tải hành khách công cộng của các đô thị hiện nay còn rất thấp so với nhu cầu(7). Việc đầu tư phát triển hệ thống cấp nước sinh hoạt chưa đáp ứng nhu cầu người dân, phạm vi bao phủ dịch vụ cấp nước còn thấp; nguồn nước đã và đang bị suy thoái cả về chất lượng và trữ lượng(8). Mặc dù hệ thống thoát nước đô thị được đầu tư hàng tỷ USD, nhưng cũng chỉ đáp ứng tỷ lệ nhỏ (khoảng 1/6) so với yêu cầu thoát nước đô thị. Khối lượng rác thải phát sinh tăng 10% – 12%/năm và ngày càng gia tăng áp lực về thu gom và xử lý cho các đô thị.

Nhiều đô thị, nhất là các khu đô thị mới thiếu cây xanh, công viên, mặt nước; thiếu trường học, trạm y tế, sân chơi cho trẻ em, người già và các đối tượng khác; kiến trúc khu vực đô thị và khu vực nông thôn còn lộn xộn, thiếu bản sắc theo vùng, miền và đặc trưng đô thị; kết nối hạ tầng giữa các đô thị và giữa đô thị trung tâm với các khu đô thị mới mở rộng, giữa đô thị với các vùng nông thôn còn nhiều yếu kém.

Ba là, kinh tế đô thị chưa phát huy hết các tiềm năng, các đô thị thiếu tính liên kết và tính đa ngành. Xu hướng phát triển khu biệt trong địa giới hành chính một tỉnh có nguy cơ tạo ra lỗ hổng lớn trong mối liên kết vùng mang tính chiến lược và tầm nhìn quốc gia,… Ngay bản thân các đô thị trong các vùng đô thị lớn, động lực chủ đạo cũng thiếu tính liên kết (vùng Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Thủ đô Hà Nội là những ví dụ điển hình); sự phối hợp đa ngành trong phát triển, quản lý đô thị còn lỏng lẻo.

Bốn là, các đô thị đối mặt với một số vấn đề có tính toàn cầu như: Hội nhập quốc tế, cạnh tranh đô thị, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng cao, phát triển bền vững, nhất là các vấn đề phức tạp của quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị như dịch cư, chênh lệch giàu nghèo, nhà ở, lao động, việc làm, phát triển vùng ven đô, liên kết đô thị – nông thôn, các tác động tiêu cực từ mạng xã hội,…

Những khó khăn, hạn chế trên có nguyên nhân chủ yếu là:

Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp lý về phát triển, quản lý đô thị chưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập. So với sự phát triển rất nhanh của xã hội hiện nay, hệ thống pháp luật liên quan tới phát triển đô thị, như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng… còn nhiều bất cập. Đặc biệt, việc triển khai lập quy hoạch theo Luật Quy hoạch năm 2017 đang gặp nhiều lúng túng, nhất là thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Những hạn chế, bất cập này khiến công tác xây dựng và triển khai quy hoạch tại các đô thị gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, trình độ quản trị đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu. Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của nhiều chính quyền địa phương. Hiện nay, các tỉnh, thành phố đều có mô hình quản trị giống nhau; không được tự quyết định về mô hình và số lượng cán bộ trong bộ máy chính quyền cho phù hợp với thực tiễn từng địa phương. Tại nhiều vùng đô thị hóa nhanh, đội ngũ cán bộ, công chức không đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước khi địa phương chuyển từ huyện thành quận; sự hình thành các khu đô thị mới gần như tách biệt với khu vực làng xóm cũ; công tác quản lý dân cư tại các khu đô thị, nhất là các khu đô thị mới chưa hiệu quả;…

Các đô thị đối mặt với một số vấn đề có tính toàn cầu, như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu… (Trong ảnh: Ngập do triều cường khu vực Thành phố Hồ Chí Minh)_Ảnh: Tư liệu

Thứ ba, năng lực cạnh tranh của các đô thị chưa cao. Các đô thị, kể cả thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có trình độ khoa học, công nghệ, năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn nhiều hạn chế; khả năng chống chịu, thích ứng với tác động bên ngoài còn yếu; năng lực tiếp cận nền kinh tế số, xã hội số còn nhiều bất cập.

Thứ tư, thiếu nguồn lực để phát triển đô thịNhu cầu vốn đầu tư cho phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị và thực hiện các dịch vụ công tại các đô thị rất lớn, nhưng nguồn lực của các đô thị còn rất thiếu. Một trong những nguyên nhân là sự phân bổ ngân sách trung ương cho các đô thị còn chưa hợp lý, điển hình là thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (với việc nhận tỷ lệ trích tổng thu ngân sách về địa phương của Thành phố Hồ Chí Minh là 18% và của Hà Nội là 35%; bình quân chi ngân sách/người tại hai thành phố này thấp hơn nhiều tỉnh, thành phố khác, thậm chí Thành phố Hồ Chí Minh còn thấp hơn bình quân của cả nước).

B- Định hướng và giải pháp phát triển đô thị hướng tới mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Quyết định số 445/QĐ-TTg, ngày 7-4-2009, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050” đã đề ra mục tiêu phát triển đô thị Việt Nam là: “Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng lưới đô thị; có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiên tiến, giàu bản sắc; có vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc”. Phát triển mạng lưới đô thị trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế về địa lý, kinh tế, xã hội, văn hóa, đồng thời hỗ trợ phát triển vùng và địa phương. Các đô thị được phát triển theo hướng xanh, văn minh, hiện đại, kinh tế phát triển mạnh theo hướng công nghệ cao, công nghệ sạch, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội. Mạng lưới đô thị quốc gia được phân theo các cấp, bao gồm: các đô thị trung tâm cấp quốc gia; các đô thị trung tâm cấp vùng liên tỉnh; các đô thị trung tâm cấp tỉnh; các đô thị trung tâm cấp huyện; các đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn (gọi tắt là đô thị trung tâm cấp khu vực) và các đô thị mới.

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương “lấy các đô thị làm động lực phát triển vùng(9) và đưa ra chỉ tiêu đến năm 2025, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 45%; năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%. Đồng thời, xác định một trong ba đột phá chiến lược của giai đoạn 2021 – 2030: “trọng tâm là ưu tiên phát triển hạ tầng trọng yếu về giao thông,… đô thị lớn”(10); “tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị”(11) là một trong những nội dung của định hướng thứ 2 trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030 với các nhiệm vụ: Đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hóa và kinh tế đô thị. Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển hệ thống đô thị hài hòa, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương; phát triển mạnh các đô thị vệ tinh của một số đô thị lớn, nhất là thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Đổi mới và nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị; phát triển đô thị có tầm nhìn dài hạn; hình thành một số chuỗi đô thị thông minh tại các khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và miền Trung (Trong ảnh: Một góc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) _Ảnh: Tư liệu

Cơ bản hoàn thành hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, công cụ quản lý, xây dựng mô hình chính quyền đô thị gắn với quản trị đô thị hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước nâng cao chất lượng phát triển đô thị cả về kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng, kiến trúc, nhà ở, chất lượng sống của người dân. Đổi mới và nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị; phát triển đô thị có tầm nhìn dài hạn; hình thành một số chuỗi đô thị thông minh tại các khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và miền Trung; từng bước kết nối với mạng đô thị thông minh trong khu vực và thế giới; xây dựng các đô thị theo hướng đô thị xanh, văn minh, có bản sắc và có tính tiên phong, dẫn dắt các hoạt động đổi mới sáng tạo, trở thành động lực của phát triển. Cơ bản hoàn thành xây dựng hệ thống hạ tầng khung của các đô thị trung tâm cả nước và các vùng đồng bộ, hiện đại, đủ năng lực phục vụ và các công trình giao thông kết nối các đô thị. Tăng tính kết nối giữa các đô thị trong nước và khu vực; gắn kết phát triển đô thị và nông thôn. Xây dựng cơ chế minh bạch đánh giá giá trị đất đai, bất động sản theo cơ chế thị trường. Giải quyết cơ bản yêu cầu về nhà ở cho cư dân đô thị, mở rộng các loại hình nhà ở; có chính sách hỗ trợ đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội. Đến năm 2030, phấn đấu đạt 30m² sàn nhà ở bình quân đầu người(12). Đại hội XIII cũng đề ra nhiệm vụ phát triển đô thị trong giai đoạn 2021 – 2025 là: Xây dựng chiến lược, hoàn thiện thể chế phát triển đô thị và kinh tế đô thị làm động lực phát triển từng vùng và địa phương; tăng cường quản lý đô thị, phát triển các đô thị vệ tinh, hạn chế xu hướng tập trung quá mức vào các đô thị lớn. Xây dựng đô thị hiện đại, văn minh, đô thị thông minh, đa dạng về loại hình, có bản sắc đặc trưng về kiến trúc, văn hóa ở từng địa phương(13).

Để thực hiện mục tiêu, định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

1- Đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về phát triển đô thị.

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014,… nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, huy động tối đa các nguồn lực ngoài ngân sách cho phát triển đô thị; đồng thời, tạo thuận lợi cho việc cải tạo, chỉnh trang đô thị. Khẩn trương ban hành các văn bản dưới luật để bảo đảm việc triển khai thực hiện Luật Quy hoạch được thuận lợi.

Nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung các tiêu chuẩn, quy chuẩn về quy hoạch đô thị theo hướng bao trùm, bảo đảm khả năng điều chỉnh các yếu tố mới phát sinh trong phát triển đô thị, như đô thị nén, xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phát triển bền vững, đặc trưng vùng, miền về điều kiện tự nhiên, di sản, văn hóa,… Điều chỉnh các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá, phân loại đô thị theo hướng nâng cao chất lượng sống đô thị, tăng trưởng xanh, thông minh và bền vững.

Hoàn thiện quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, đơn giá liên quan đến lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật; ban hành cơ chế, chính sách định hướng, khuyến khích đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong đô thị. Xây dựng và đổi mới định mức, đơn giá đầu tư xây dựng, bảo đảm đầu tư phát triển đô thị có hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực tài nguyên đất đai, năng lượng. Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số cấp quốc gia đánh giá năng lực cạnh tranh và năng lực hội nhập cấp vùng và cấp đô thị.

2- Sớm rà soát, sửa đổi, ban hành chiến lược, quy hoạch đô thị quốc gia.

Việc triển khai thực hiện Quyết định số 445/QĐ-TTg, ngày 7-4-2009, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050” đã góp phần tích cực vào việc phát triển hệ thống đô thị Việt Nam trong 12 năm qua. Tuy nhiên, hiện nay bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi lớn, đòi hỏi sự phát triển của hệ thống đô thị Việt Nam cần phải được điều chỉnh để đóng góp hiệu quả hơn vào sự phát triển chung của đất nước.

Hiện nay, các vấn đề quốc tế, như biến đổi khí hậu, suy kiệt tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước, biến động trong cấu trúc quyền lực và địa kinh tế, gia tăng bất bình đẳng, bất ổn về an ninh – quốc phòng, di cư quốc tế,… đang là những thách thức mới trong định hướng phát triển, quản trị và tài chính đô thị. Ở trong nước, định hướng phát triển đô thị Việt Nam đã thay đổi nhiều so với 12 năm trước để phù hợp với trình độ phát triển cao hơn và phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững, chú trọng cả ba lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường, hòa nhập vào những vấn đề và mối quan tâm toàn cầu. Đặc biệt, việc Quốc hội ban hành Luật Quy hoạch năm 2017, có hiệu lực từ ngày 1-1-2019, đã tạo cơ sở pháp lý trong việc tích hợp các lĩnh vực quy hoạch cho mục tiêu phát triển bền vững; trong đó, quy hoạch đô thị và nông thôn là một quy hoạch ngành quốc gia, có phối hợp chặt chẽ với quy hoạch tổng thể tích hợp quốc gia(14). Do vậy, cần điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam tầm nhìn đến năm 2050 với mục tiêu phát triển bền vững, gắn kết chặt chẽ với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và các quy hoạch ngành trên quan điểm tích hợp đa ngành. Trong đó, lưu ý việc quy hoạch các chuỗi đô thị, phân bố hợp lý các đô thị trong từng vùng đô thị hóa, vùng kinh tế – xã hội và cả nước, bảo đảm phát triển kinh tế, an ninh – quốc phòng; tăng cường kết nối giữa các đô thị theo hành lang kinh tế, khu kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm, các khu kinh tế quốc gia (cửa khẩu và ven biển), liên kết với các nước trong khu vực ASEAN, Trung Quốc, khu vực tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng (GMS), vùng Đông Bắc Á… để bảo đảm phát triển đô thị năng động, hiệu quả.

Cần sớm ban hành Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 nhằm cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2030, làm cơ sở cho các tỉnh, thành phố xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển đô thị tại địa phương. Chiến lược này cần tích hợp các kế hoạch, chương trình, đề án liên quan đến phát triển, quản lý đô thị và phát triển kinh tế đô thị, như: Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 84/QĐ-TTg, ngày 19-1-2018, của Thủ tướng Chính phủ), Đề án phát triển kinh tế ban đêm ở Việt Nam (ban hành theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg, ngày 27-7-2020, của Thủ tướng Chính phủ), Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 (ban hành theo Quyết định số 280/QĐ-TTg, ngày 13-3-2019, của Thủ tướng Chính phủ),…

Xây dựng chiến lược phát triển đô thị Việt Nam phải phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) và hội nhập quốc tế; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực đô thị, góp phần bảo đảm đến năm 2030 xây dựng nước ta “là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức sáng tạo, ý chí và sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng xã hội phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Phấn đấu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(15).

Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam cần xác định, phát triển hệ thống đô thị Việt Nam theo mô hình mạng lưới, xanh, thông minh và bền vững; có kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; tăng cường khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; có nền kiến trúc đô thị tiên tiến, giàu bản sắc; có vai trò và vị thế xứng đáng trong mạng lưới đô thị châu Á – Thái Bình Dương, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cần xây dựng từng đô thị trở thành trung tâm, đầu tàu phát triển kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của từng địa phương, từng vùng và cả nước.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh _Ảnh: TTXVN

Ở cấp địa phương, cần khẩn trương xây dựng quy hoạch theo Luật Quy hoạch, trong đó lập và quản lý quy hoạch, phát triển đô thị theo hướng quy hoạch tích hợp, bảo đảm phát triển không gian hợp lý, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, năng lượng, nguồn nước. Lấy quy hoạch làm điều kiện để phát triển kinh tế đô thị và dựa vào đặc thù kinh tế đô thị của từng địa phương để xây dựng quy hoạch. Gắn kết quy hoạch với kế hoạch đầu tư, đầu tư công trung hạn và hằng năm, bảo đảm nguồn lực thực hiện. Lồng ghép các mục tiêu thông minh, tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo vệ môi trường, di sản văn hóa, lịch sử trong xây dựng và quản lý quy hoạch.

3- Nâng cao năng lực quản trị của các chính quyền đô thị.

Hoàn chỉnh mô hình chính quyền đô thị theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) phù hợp với quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế – xã hội từng vùng, từng địa phương. Xây dựng mô hình quản trị các đô thị vệ tinh. Điều chỉnh các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá phát triển đô thị cho phù hợp, theo hướng nâng cao chất lượng sống đô thị, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Khoản 2, 3, Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó”. Thực tiễn cho thấy, có nhiều nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Trung ương được giao cho địa phương thực hiện, nhưng chỉ giao việc mà không kèm theo các điều kiện để thực hiện công việc đó, vì vậy, gây nhiều khó khăn cho địa phương trong việc thực thi công vụ. Đồng thời, việc phân cấp, phân quyền chưa đủ mạnh để tạo điều kiện cho các địa phương phát huy lợi thế so sánh và những đặc thù vốn có của mình trong việc phát triển kinh tế – xã hội(16). Do đó, cần đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền giữa chính quyền địa phương với chính quyền Trung ương và giữa các cấp của chính quyền địa phương theo hướng mạnh dạn trao quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho địa phương để đạt hiệu quả tốt nhất về thời gian, chất lượng công việc và sử dụng nguồn lực. Cần sớm trao quyền tự chủ về số lượng biên chế cán bộ cho các đô thị; cân đối lại tỷ lệ trích ngân sách về địa phương đối với các đô thị đặc biệt để các đô thị đó có đủ nguồn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ công đô thị.

Các đô thị cần đi đầu trong việc hiện đại hóa nền hành chính nhà nước; tăng cường khả năng quản trị thông qua công nghệ và bằng công nghệ; xây dựng nền hành chính phục vụ kiến tạo và phát triển; đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử; thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn, nhất là dữ liệu về dân cư, y tế, giáo dục, bảo hiểm, doanh nghiệp, đất đai, nhà ở…; tăng cường sử dụng công nghệ, mạng xã hội để tương tác với xã hội; định hướng xã hội thông qua mạng xã hội; triệt để khai thác và chủ động phát huy các giá trị tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội. Xác định cơ chế phù hợp để vận hành, kiểm soát hiệu quả hệ thống quản lý tài chính, ngân sách, sử dụng hợp lý các nguồn thu cho đầu tư phát triển đô thị. Thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, có cơ chế, công cụ khuyến khích khu vực tư nhân, đặc biệt coi trọng nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển đô thị. Xây dựng cơ chế minh bạch đánh giá giá trị đất đai, bất động sản. Tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia thị trường bất động sản theo cơ chế thị trường; đồng thời, có giải pháp kiểm soát, điều tiết bảo đảm thị trường bất động sản phát triển ổn định, công khai, minh bạch.

Trung tâm điều hành thông minh thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng – một trong những địa phương đầu tiên trên cả nước triển khai mô hình thành phố thông minh _Ảnh: TTXVN

Tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý, phát triển đô thị. Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế để đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu công việc, đồng thời xây dựng các chính sách để thu hút nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, thích ứng với thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0.

Xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn chức danh cán bộ quản lý, công chức chuyên môn ở đô thị. Đồng thời, xây dựng và triển khai cơ chế khuyến khích sự tham gia hiệu quả của người dân, cộng đồng xã hội trong quy hoạch, quản lý phát triển đô thị.

4- Tập trung phát triển kinh tế đô thị, tăng cường năng lực cạnh tranh của các đô thị.

Nâng cao vai trò động lực, cực tăng trưởng của các vùng đô thị hóa, đô thị lớn/cực lớn nhằm tăng khả năng tích tụ của nền kinh tế. Tái cấu trúc phát triển các vùng đô thị hóa cơ bản trên cơ sở 6 vùng kinh tế – xã hội quốc gia là: vùng trung du và miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, mỗi vùng có các khu vực đô thị hóa tập trung cao, các đô thị động lực, các hành lang phát triển chủ đạo, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế  - xã hội giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của đất nước.

Với những thế mạnh về sự phát triển của hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, các đô thị cần tận dụng các cơ hội của Cách mạng công nghiệp 4.0 để phát triển kinh tế đô thị theo hướng hiện đại, rút ngắn khoảng cách với các đô thị lớn trên thế giới.

Ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng giao thông kết nối giữa các đô thị với các vùng kinh tế và hạ tầng viễn thông, hạ tầng công nghệ thông tin để tạo điều kiện thuận lợi cho các đô thị tập trung phát triển nhanh kinh tế số, các ngành sản xuất, kinh doanh ứng dụng công nghệ cao.

Quy hoạch, phân chia các khu vực sản xuất, đẩy mạnh liên kết giữa các đô thị, giữa đô thị với nông thôn. Các đô thị lớn cần phát triển mạnh các ngành thương mại, dịch vụ chất lượng cao, trong đó chú trọng phát triển dịch vụ y tế, giáo dục; phát triển mạnh loại hình dịch vụ du lịch hội nghị, hội thảo quốc tế; tiếp tục phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, khai thác tối đa lợi thế văn hoá, lịch sử, tài nguyên thiên nhiên trong phát triển các sản phẩm du lịch.

Bên cạnh đó, tại các đô thị đặc biệt và các đô thị loại I, đẩy mạnh việc triển khai một số mô hình kinh tế đô thị mới như kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, là trung tâm khởi nghiệp, ươm tạo doanh nghiệp của cả nước.

Quan tâm phát triển các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài nhà nước. Tập trung hỗ trợ để sớm hình thành một số doanh nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia có năng lực cạnh tranh quốc tế. Các doanh nghiệp này sẽ là cầu nối giúp các doanh nghiệp nhỏ hơn phát triển.

5- Tăng cường cải tạo, chỉnh trang, phát triển đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Các địa phương cần xây dựng chương trình phát triển đô thị, trong đó có các kế hoạch cải tạo, chỉnh trang đô thị cũ, phát triển đô thị mới. Tập trung cải tạo, chỉnh trang hệ thống hạ tầng theo hướng hiện đại, cung cấp các dịch vụ công chất lượng tốt, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; đồng thời, xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, phù hợp với văn hóa, lịch sử của mỗi đô thị, góp phần phát triển các ngành du lịch, dịch vụ của các đô thị.

Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các khu đô thị xanh, văn minh, thông minh. Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cần có những giải pháp cụ thể để đến năm 2025 xây dựng được ít nhất 1 đô thị vệ tinh.

Trong quá trình đô thị hóa, các đô thị cần bảo đảm sự đồng bộ về hạ tầng giữa các khu phát triển mới và các khu dân cư cũ, tránh tình trạng bị ngập lụt, ô nhiễm môi trường, thiếu các thiết chế văn hóa – xã hội, khu vui chơi giải trí…

6- Thúc đẩy hợp tác trong nước và quốc tế trong phát triển đô thị.

Cần xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của các đô thị trong mối quan hệ giữa các địa phương trong vùng và trong phát triển vùng, đặc biệt là các thành phố trực thuộc Trung ương. Khuyến khích các đô thị chủ động hợp tác quốc tế trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị, bao gồm công tác quy hoạch, đầu tư phát triển đô thị, phát triển kinh tế; đồng thời, tích cực thực hiện các hợp tác về giao lưu văn hóa, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, biến đổi khí hậu. Tăng cường hợp tác quốc tế và da dạng hóa nguồn lực để triển khai các hoạt động về ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh trong quản lý và phát triển đô thị./.

—————————

(1) Nổi bật là các quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 445/QĐ-TTg, ngày 7-4-2009, “Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”; Quyết định số 1659/QĐ-TTg, ngày 7-11-2012, “Phê duyệt Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 – 2020”; Quyết định số 84/QĐ-TTg, ngày 19-1-2018, “Phê duyệt Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030”; Quyết định số 950/QĐ-TTg, ngày 1-8-2018, “Phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 438/QĐ-TTg, ngày 25-3-2021, “Phê duyệt Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030”;…
(2) Không chỉ tại các đô thị đặc biệt, nhiều đô thị như Cần Thơ, Cao Lãnh, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Sơn La… đã tổ chức các tuyến giao thông công cộng phục vụ vận chuyển khách
(3) Theo Hội Cấp thoát nước Việt Nam, hiện tại, 70% hệ thống cấp nước đô thị bảo đảm cấp nước 24/24h, tổng công suất thiết kế đạt 8,7 triệu m3/ngày đêm; tỷ lệ dân cư thành thị được cung cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 80%, mức sử dụng nước sinh hoạt bình quân đạt 105 lít/người/ngày đêm
(4) Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Các đô thị đang chuyển hướng xử lý chất thải rắn từ chôn lấp sang các công nghệ giảm thiểu tối đa tỷ lệ chôn lấp
(5) Phương thức mở rộng này thường tập trung vào các đô thị loại IV khi phát triển nâng cấp lên đô thị loại III
(6) Như thị xã Đồ Sơn, Kiến An sáp nhập vào nội đô Hải Phòng; Ngũ Hành Sơn, Hòa Vang sáp nhập vào nội đô Đà Nẵng; hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số tỉnh Hà Tây, chuyển toàn bộ huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc), 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung (thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình) vào Thủ đô Hà Nội (với diện tích tự nhiên trên 3.328km2),…
(7) Năm 2019, hệ thống xe buýt vận tải hành khách công cộng của thành phố Hà Nội mới chỉ đáp ứng được 17,3% và của Thành phố Hồ Chí Minh là 9,2% nhu cầu đi lại của người dân. Tại các đô thị khác, vận tải hành khách công cộng có thể coi như đang trong quá trình thử nghiệm vì số lượng tuyến và lượng hành khách vận tải còn quá nhỏ. Việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng được người dân đánh giá là chưa có lợi thế hơn so với phương tiện giao thông cá nhân phổ biến hiện nay là xe máy
(8) Nguồn nước mặt bị ô nhiễm do chất thải, nước thải sinh hoạt và sản xuất; ngoài ra còn chịu tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, đặc biệt là trong mùa khô, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền hàng chục ki-lô-mét, khu vực chịu ảnh hưởng mạnh là vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải miền Trung. Nguồn nước ngầm khai thác quá mức cho phép dẫn đễn ô nhiễm nguồn nước một số nơi ở thành phố Hà Nội và gây sụt lún ở Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cà Mau
(9), (10), (11), (12), (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 249, 222, 115, 259 – 260, 126
(14) Lưu Đức Cường, Phạm Thị Nhâm, Phó Đức Tùng: “Đề xuất những định hướng phát triển đô thị Việt Nam giai đoạn đến năm 2035 theo hướng tích hợp đa ngành”, https://www.viup.vn/vn/Quy-hoach-he-thong-DT-va-NT-n110-De-xuat-nhung-dinh-huong-phat-trien-he-thong-do-thi-Viet-Nam-giai-doan-den-nam-2035-theo-huong-tich-hop-da-nganh-d11766.html
(15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 217 – 218

PGS, TS. VŨ TRỌNG LÂM – TS. NGUYỄN THỊ DIỄM HẰNG
Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản – Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *